Cài đặt tùy chỉnh

Tùy chỉnh
Mục lục
Đánh dấu

Sau khi bị mù, ta nhận nhầm phu quân

Chương 36

Ngày cập nhật : 2026-06-06 04:47:56

Lý Hác không dám tin: “Chẳng lẽ một kẻ thô kệch như ta cũng có việc để làm?”


Yến Thư Hành mỉm cười: “Tất nhiên rồi, và chỉ có ngài mới làm được thôi.”


.


Lúc bước ra khỏi phủ thành chủ, trời đã gần hoàng hôn.


Phá Vụ hỏi Yến Thư Hành: “Trưởng công tử, tại sao người chắc chắn triều đình sẽ giao việc thu nạp lưu dân cho Nghi Thành?”


Yến Thư Hành có ý muốn bồi dưỡng Phá Vụ nên khá kiên nhẫn giải thích: “Vì địa thế. Thu nạp lưu dân chỉ là cái cớ, phía tây Nghi Thành là Tương Dương và Kiến Khang, thu nạp lưu dân tại đây có thể ngăn chặn họ tràn về Kiến Khang và Kinh Khẩu, triều đình chắc chắn sẽ đồng ý. Hơn nữa, Nghi Thành được bao bọc bởi núi non hiểm trở, địa thế dễ thủ khó công, lại là con đường tắt để tiến quân lên Bắc phạt, rất thích hợp để đóng quân. Xung quanh Nghi Thành đều là các quận lớn, do địa hình nên từ lâu đã bị các đại tộc lơ là, đây chính là cơ hội để chúng ta len lỏi vào.”


Phá Vụ vẫn thắc mắc: “Tại sao lại là Lý Hác?”


Yến Thư Hành cười đáp: “Lý Hác được lòng dân, từng có kinh nghiệm luyện binh, và quan trọng nhất, ông ta xuất thân từ hàn môn.”


Cục diện vừa mới định hình, nếu các đại tộc khác nhận lấy việc này, cấu trúc quyền lực trong triều sẽ lại biến động, đó là điều mà các thế gia đều không muốn thấy. Lúc này, giao cho một người nằm ngoài vòng xoáy quyền lực là thích hợp nhất.


Phá Vụ suy ngẫm một lát: “Lý Hác vốn có nhiều bất mãn với sĩ tộc, chắc hẳn ông ta cũng hiểu người mưu tính việc này là vì lợi ích của gia tộc, việc an bài lưu dân chỉ là thuận tay mà thôi. Vậy sao ông ta lại cam lòng phụ thuộc vào lang quân, âm thầm trở thành thế lực của Yến gia?”


Yến Thư Hành hỏi ngược lại: “Phá Vụ thấy sao?”


Phá Vụ ngẫm nghĩ, chợt nhớ Yến Thư Hành thường nói về việc mưu tính: mưu kế không nằm ở chỗ chu toàn bao nhiêu, mà nằm ở lòng người.


Đó là đôi bên cùng có lợi.


Lý Hác một lòng vì dân, lại là võ tướng muốn được cầm quân, ngay cả từ góc độ tư lợi, Yến thị cũng có thể giúp ông ta đứng vững và thực hiện hoài bão trong cái thế cục bị các môn phiệt lũng đoạn này.


Nếu Thành chủ không phải là một người xích thành như Lý Hác, Yến Thư Hành cũng sẽ tìm cách thay thế bằng một người như vậy.


.


Lúc hoàng hôn, Yến Thư Hành trở về khách điếm.


A Tự đang nghe A Thịnh kể về những chuyện mắt thấy tai nghe trên đường đi, tiểu lang quân tò mò hỏi: “Tỷ tỷ, ‘dịch tử nhi thực*’ nghĩa là gì?”


*Dịch tử nhi thực: đổi con mà ăn.


A Tự ngẩn người, không nỡ trả lời.


Tiếng kêu khóc của lưu dân ngoài thành đã đủ để người ta thấm thía sự vô tình của thiên tai, lúc này nghe một đứa trẻ bốn tuổi thốt ra cụm từ ‘dịch tử nhi thực’, một nỗi bi thương khó tả bủa vây lấy tâm trí nàng.


Nàng gượng gạo giải thích: “A Thịnh nghe nhầm rồi phải không, ta chỉ nhớ có một câu là dịch địa nhi xứ* thôi…


**Dịch địa nhi xứ: Đổi vị trí cho nhau.


Nàng căn bản không cách nào đặt mình vào hoàn cảnh đó, chẳng dám tưởng tượng nếu bản thân ở giữa đám lưu dân kia thì sẽ phải đối mặt với thảm cảnh thế nào.


“Đại ca!”


Cùng lúc tiểu lang quân lên tiếng, một bàn tay đặt lên vai A Tự, người tới cúi người, tựa cằm vào hõm cổ nàng.


“Ta về rồi đây.”


Yến Thư Hành lấy ra hai viên mứt hoa quả, đưa một viên cho A Thịnh, dỗ cậu ra ngoài tìm Trúc Diên chơi. Sau đó, hắn dịu dàng đưa viên còn lại đến bên môi A Tự: “Nếm thử đi.”


A Tự mở miệng, vị ngọt lan tỏa khắp khoang miệng.


Yến Thư Hành vuốt nhẹ tóc nàng, bắt đầu trò chuyện về chuyện lưu dân và cống phẩm: “Trần phi trong cung kia xuất thân từ Trần thị ở Dĩnh Xuyên, môn phong Trần thị thanh chính, nghe nói Trần phi còn tin Phật, tính tình ôn hòa, chắc hẳn cũng không muốn bách tính phải rơi vào cảnh màn trời chiếu đất.”


Hai chữ “Dĩnh Xuyên” khiến A Tự cảm thấy thân thuộc một cách lạ lùng. Nàng ngẩn ra một thoáng, rồi khi nhớ đến đám lưu dân kia, nàng nhanh chóng lấy lại vẻ bình thản: “Trần phi ở tận sâu trong cung, dù bách tính có lưu lạc khắp nơi, họ cũng chẳng nhìn thấy được.”


“Và thiếp cũng không cho rằng người tin Phật thì nhất định sẽ nhân từ, đặc biệt là những người ở vị trí cao. Hoặc là vì ham muốn quá lớn không thể lấp đầy nên phải cầu cứu quỷ thần, hoặc là làm cho người khác xem để đánh bóng hiền danh mà thôi.”


Ngay cả khi chưa mất trí nhớ, A Tự vẫn luôn giữ dáng vẻ ôn hòa, ngây thơ, chưa từng nặng lời với bất kỳ ai. Đây là lần đầu tiên nàng lộ ra những góc cạnh sắc sảo và sự gai góc trước mặt Yến Thư Hành.


Yến Thư Hành thích thú ngắm nhìn tiểu hồ ly của mình.

[Truyện được đăng tải duy nhất tại website Mỏ Truyện - https://motruyen.online/read/sau-khi-bi-mu-ta-nhan-nham-phu-quan&chuong=36]

A Tự đang trầm tư, miệng còn lẩm nhẩm cụm từ “đánh bóng hiền danh”.


Hắn hỏi: “Chẳng lẽ A Tự đã có cách?”


Bản năng tránh nặng tìm nhẹ khiến A Tự không muốn sinh thêm chuyện, nàng lắc đầu: “Chẳng lẽ lại lấy danh nghĩa Trần nương nương đem gạo cống cho lưu dân ăn, rồi nói với họ rằng nương nương thương xót nỗi khổ của dân gian nên đã nhịn ăn để dành cho họ một bát cháo sao? Hơn nữa, căn nguyên không nằm ở cống phẩm. Trong thành có biết bao phú hộ hào tộc, mỗi người chỉ cần bỏ ra một túi gạo thôi đã nhiều hơn chỗ cống phẩm này gấp bội, chỉ là họ không cam lòng mà thôi.”


Yến Thư Hành nhìn đăm đăm vào tia sáng nhỏ nhoi đang dần tắt lịm trong đôi mắt mù lòa của nàng, rồi thắp sáng nó ngay khoảnh khắc nó sắp lụi tàn.


“Lời của A Tự đã gợi ý cho ta.”


A Tự đột ngột ngẩng đầu: “Phu quân có cách sao?”


Yến Thư Hành mỉm cười, nhìn chằm chằm vào ngọn lửa nhỏ trong mắt nàng.


“Người xưa thường mượn danh ý trời để hành sự. Ngay lúc cống phẩm bị chặn lại, chẳng phải chính là thiên thời địa lợi, chỉ còn thiếu một chút nhân hòa sao?”


Hắn chỉ nói đến đó rồi dừng lại, cố ý khơi gợi sự tò mò của nàng.


A Tự lại hiểu lầm, nghĩ rằng hắn im lặng là do xuất thân võ biền không giỏi mưu lược, liền nói: “Không sao đâu phu quân, ba gã thợ giày bằng một Gia Cát Lượng, chúng ta cùng nhau nghĩ cách…”


Tiểu hồ ly của hắn thật là một người biết quan tâm.


Khóe miệng Yến Thư Hành cong lên, nụ cười càng thêm đậm.


Hắn khẩn thiết nói: “Làm phiền phu nhân rồi. Những gì ta đọc đều là kinh điển về huyền học, thanh đàm, nếu thực sự luận bàn chính sự thì đúng là lực bất tòng tâm, vẫn cần A Tự chỉ bảo thêm.”


A Tự không khỏi nảy sinh ảo giác rằng mình đang bảo vệ hắn, nàng an ủi nắm lấy tay hắn: “Cái gọi là ‘Trời’ mà phu quân nói là chỉ những vị quý nhân đó sao? Có lẽ có thể lợi dụng vị quan áp tải cống phẩm, nói rằng nếu cống phẩm không thể thuận lợi lên đường thì ông ta khó tránh khỏi tội trách, bắt ông ta lấy thân phận quan triều đình đi giao thiệp với đám hào tộc phú hộ trong thành?”


Nàng lại từ từ cau mày: “Nhưng ngộ nhỡ hào tộc địa phương có đại tộc chống lưng, không coi chuyện này ra gì, thậm chí còn quay ngược lại gán cho Trần phi cái danh ‘yêu phi’ không màng đến nỗi khổ của dân, thì khi bị truy cứu, người khó xử nhất chính là những viên quan nhỏ bên dưới.”


Yến Thư Hành đúng lúc bồi thêm: “Ta đã nghe ngóng qua, hào tộc địa phương ở đây đều không lọt vào hàng danh gia vọng tộc. Liên kết với quan viên áp tải cống phẩm, lấy danh nghĩa chúc thọ Thiên Thu yến của Trần phi để quyên lương là một ý hay. Người đời trọng danh tiếng, đây chính là cơ hội để họ có được cái danh tốt là trượng nghĩa khinh tài.”


A Tự suy nghĩ một lát: “Chỉ có danh tiếng tốt thôi thì chưa đủ. Nói trắng ra, ‘danh’ luôn đi đôi với ‘lợi’, những người đó muốn danh tiếng cũng là vì muốn trục lợi. Phải cho họ một chút lợi ích nào đó, nhưng chúng ta và những viên quan nhỏ kia tay không binh quyền, chẳng thể cho lợi ích thực tế, chỉ có thể đưa ra những thứ hư ảo nhưng đủ sức hấp dẫn mà thôi.”


Yến Thư Hành tỏ vẻ tán thưởng: “Phu nhân quả thực rất am hiểu đạo lý ‘tay không bắt giặc’. Vừa hay ta có chút quan hệ họ hàng với Yến thị, cũng có thể mượn danh nghĩa của trưởng công tử để nhúng tay vào việc này.”


A Tự lại có chút lo ngại: “Chàng tự ý mạo danh trưởng công tử để hành sự, nhỡ đâu ngài ấy truy cứu thì sao? Lưu dân đáng thương thật, nhưng thiếp cũng chỉ có một mình chàng là phu quân thôi.”


Yến Thư Hành nhất thời chẳng biết nên vui hay buồn.


Cuối cùng, hắn cười tự giễu: “Trưởng công tử không phải là quan lại tàn bạo, ngài ấy cũng có nhân tính mà.”


Hắn ôm lấy A Tự: “Thành hay bại, cứ thử một phen sẽ biết.”


Mọi chuyện được quyết định như thế.


Đêm đó trước khi ngủ, Yến Thư Hành báo với A Tự rằng thành chủ đã đồng ý làm cầu nối cho họ, tổ chức một buổi nhã tập tại rừng trúc trong thành, mời các hào tộc địa phương và văn nhân mặc khách cùng hội ngộ.


“A Tự cũng đi góp vui nha!”


Nếu là trước kia, với những dịp tụ tập nhiều quyền quý thế này, A Tự sẽ tránh được thì tránh. Nhưng nàng thực sự quan tâm đến kết quả của việc này, lại thêm việc đang bịt mắt nên chẳng sợ ai nhận ra, bèn gật đầu đồng ý.


Sáng sớm hôm sau, hai người dẫn theo Trúc Diên và A Thịnh đến rừng trúc từ sớm. Lúc này chỉ có họ vừa tới, xung quanh tiếng chim hót líu lo, lá trúc xào xạc, vô cùng phong nhã.


Người thời nay thích gửi gắm tình cảm vào non nước, tìm kiếm chân lý vạn vật giữa đất trời. Tuy nhiên, thú tao nhã ấy chỉ dành cho ẩn sĩ sĩ tộc, còn dân thường chỉ riêng việc mưu sinh đã đủ gian nan, nói chi đến chuyện phóng khoáng tiêu dao?


Có người đang gảy đàn trong rừng, A Tự nghiêng tai lắng nghe, bỗng thốt lên: “Là Kê thị tứ lộng?”


Ánh nắng xuyên qua kẽ lá trúc chiếu xuống, trong mắt Yến Thư Hành lấp lánh tia sáng: “A Tự cũng hiểu về cầm thuật sao?”


A Tự nhíu mày nghe tiếng đàn: “Hình như thiếp không biết gảy đàn đâu, chỉ là nghe qua thấy quen thôi.”


Thấy nàng nghe đến xuất thần, Yến Thư Hành không nói gì thêm, chỉ lặng lẽ đứng sóng vai cùng nghe đàn.


Bản nhạc kết thúc, cả hai đều như vừa choàng tỉnh sau một giấc mộng.


Còn Trúc Diên và A Thịnh, một người mười bốn mười lăm tuổi, một người mới hơn bốn tuổi, đã chạy đi chơi mất hút từ lúc họ đang nghe đàn rồi.


Yến Thư Hành gạt lá trúc trên đầu A Tự, thấy thần sắc nàng vẫn còn ngẩn ngơ, hắn dịu giọng: “Lúc nhỏ ta từng học đàn với tổ phụ, tuy kỹ nghệ không tinh thông, nhưng nếu A Tự thích, sau khi về tới Kiến Khang, ngày nào ta cũng gảy đàn cho nàng nghe, có được không?”


A Tự thu hồi dòng suy nghĩ, mỉm cười nói: xThật không ngờ phu quân lại còn biết gảy đàn.”


Yến Thư Hành ôm lấy nàng từ phía sau, đôi môi như có như không chạm vào bên cổ A Tự, đặt lên đó một nụ hôn rồi trầm giọng: “Những điều phu nhân không ngờ tới còn nhiều lắm, sau này nàng sẽ dần dần được biết thôi.”


Có lẽ do tư thế ôm của hắn quá quyến luyến, lời nói lại dịu dàng, mà nụ hôn cũng thật nhẹ nhàng, A Tự không kìm được lại nghĩ theo hướng không đứng đắn cho lắm.


Phải chăng hắn lại đang có ám chỉ gì?


“Giang lang quân!”


Tiếng gọi thô lỗ phá tan bầu không khí tình tứ, A Tự như gặp được cứu tinh, khẽ thở phào một hơi. Yến Thư Hành buông nàng ra, chào hỏi người vừa tới: “Lý đại nhân đến sớm thật.”


Tuy Lý Hác là một đại hán ngoài bốn mươi nhưng trong chuyện đời thường lại thực sự vô tư. Vì Yến Thư Hành cao hơn A Tự cả một cái đầu, lại có những rặng trúc cao thấp che khuất, nên lúc Lý Hác đi tới vẫn chưa phát hiện ra Yến Thư Hành đang ôm một nữ tử trong lòng. Thấy hắn khom lưng với tư thế kỳ lạ, gã còn tưởng hắn đang…


Ánh mắt và ngữ điệu như cười như không của Yến Thư Hành khiến gã tức khắc tỉnh ngộ, hiểu ra mình vừa phá hỏng giây phút mặn nồng của đôi trẻ, Lý Hác không khỏi ngượng ngùng lẫn áy náy.


“Tình cảm của hai vị thật hòa thuận, khiến người ta phải ghen tị!”


Yến Thư Hành rất hài lòng với câu nói này, hắn xoay người ôn tồn nói với A Tự: “Ta có chút việc cần bàn bạc với Lý đại nhân, A Tự ở đây đợi một chút có được không? Đừng lo lắng, Trúc Diên và A Thịnh ở ngay gần đây thôi, ta cũng có thể nhìn thấy nàng.”


Từ giọng nói đến ánh mắt, dáng vẻ đều dịu dàng như nước. Lý Hác nhìn đôi bích nhân này, thầm nghĩ tiểu tử này không chỉ tuấn tú mà còn rất khéo dỗ dành nữ nhi, cũng may không phải loại công tử phong lưu, nếu không chẳng biết bao nhiêu cô nương nhà người ta phải khổ sở vì hắn!


Họ đi xa dần, A Tự đứng giữa rừng trúc nghe tiếng gió xào xạc như tiếng cười của trúc, chỉ cảm thấy tâm cảnh bỗng chốc rộng mở. Nàng vô thức hơi ngẩng đầu lên, nào ngờ một cơn gió bất chợt thổi qua, dải lụa trên mắt bị gió cuốn vướng vào cành trúc. A Tự vừa cử động, cả dải lụa liền bị móc rơi ra hoàn toàn.


Nàng không muốn lộ mặt trước người lạ, vội vàng nâng tay áo che mặt, đưa tay mò mẫm tìm dải lụa nhưng vì mù lòa nên chỉ vồ hụt vào hư không. Nàng đành bất lực thu tay về, định bụng đợi phu quân quay lại giúp đỡ.


Bên cạnh bỗng có người ôn tồn lên tiếng:


“Cô nương đừng hoảng, xin đợi một lát.”


Nghe giọng điệu thì hẳn là một lang quân trẻ tuổi, cư xử khiêm nhường lễ độ. A Tự không thể dùng mắt để xác định đối phương là ai, để cẩn trọng, nàng cố ý cúi thấp đầu: “Làm phiền ngài.”


Lang quân lạ mặt kia bỗng quên cả trả lời.


Hắn nhìn nữ lang vận bộ váy trơn thanh nhã trước mắt đến ngây dại. Tuy nàng không phải sắc nước hương trời, nhưng khí chất cốt cách vô cùng đặc biệt, đôi mắt trong trẻo chẳng vương bụi trần, thậm chí còn thoáng chút bàng hoàng, tựa như một tinh linh từ rừng sâu vô tình lạc vào nhân thế, đang mông lung chẳng biết làm sao.


Hắn bất giác nhớ tới một câu thơ:


Rạng rỡ tựa mặt trời mọc giữa rạng đông, rực rỡ như hoa sen nhô lên khỏi làn nước biếc.


Nhận ra mình đang mạo phạm giai nhân,lang quân trẻ tuổi vội thu hồi ánh mắt, cung kính dâng trả dải lụa bằng cả hai tay. Động tác của hắn cực kỳ trân trọng, như thể đang nâng niu một phiến mây hồng: “Cô nương cẩn thận.”


A Tự lần theo tiếng động để nhận lấy dải lụa, sau khi bịt mắt lại mới thấy an tâm hơn phần nào, nói lời cảm ơn: “Đa tạ.”


“Chỉ là việc nhỏ, xin đừng để tâm.”


Nữ lang buộc dải lụa lên, vì chút khiếm khuyết nhỏ nhoi này mà bớt đi vài phần thoát tục, lại thêm mấy phần gần gũi. Lang quân trẻ tuổi xao động trong lòng, lấy hết can đảm bắt chuyện: “Cô nương đang đợi người sao?”


A Tự nhạy bén nhận ra sự nhiệt tình đang được đối phương kìm nén. Nàng ghi nhận thiện ý của hắn, nhưng vì hoàn cảnh bản thân, nàng vốn đã quen cảnh giác với những sự nhiệt tình vượt quá mức thiện chí thông thường.


Cũng may lang quân này nghe có vẻ không phải người xấu, chỉ cần nàng nhắc tới phu quân nhà mình, chắc hẳn sẽ vạch rõ được ranh giới.


Đang định mở lời thì bàn tay nàng đã bị ai đó nắm lấy.

Bình Luận

0 Thảo luận